Home / VĂN MẪU THCS / Văn mẫu lớp 8 / Hướng Dẫn Soạn Bài Ông Đồ Lớp 8 Của Vũ Đình Liên | Văn Mẫu

Hướng Dẫn Soạn Bài Ông Đồ Lớp 8 Của Vũ Đình Liên | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 8): Em hãy soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên

Đề bài: Hướng Dẫn Soạn Bài Ông Đồ Lớp 8 Của Vũ Đình Liên.

BÀI LÀM

1, Tác giả

  • Vũ Đình Liên: Quê ở Hải Dương, nhưng thời gian ông sống chủ yếu ở Hà Nội.
  • Ông thuộc thế hệ lớp nhà thơ đầu tiên của phong trào Thơ Mới.
  • Thơ của ông: mang nặng lòng yêu thương con người và đậm nỗi niềm hoài cổ.

2, Tác phẩm

Là bài thơ tiêu biểu nhất cho tâm hồn thơ giàu thương cảm, nặng niềm hoài cổ của nhà thơ Vũ Đình Liên.

Trả lời các câu hỏi:

Loading...

Câu 1:

(*) Hình ảnh ông đồ ngồi viết chữ nho ngày Tết trong hai khổ thơ đầu:

– Ông đồ là hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện mỗi dịp Tết đến xuân về để viết chữ Nho, câu đối cho mọi người treo trong nhà.

– Hình ảnh ông đồ gắn liền với hình ảnh “mực tàu”, “giấy đỏ”: đó chính là công việc viết chữ Nho.

– Hình ảnh “mỗi năm hoa đào nở” chỉ đến sự đều đặt luân chuyển của thời gian, và cũng đều đặn như thế, hình ảnh ông đồ ngồi viết chữ mỗi dịp Tết đến chính là hình ảnh vô cùng quen thuộc, không thể thiếu, như là một dấu ấn quan trọng trong những ngàu tết.

– Nét chữ của ông đồ đẹp, được miêu tả với sự ngưỡng mộ, ngợi ca. Rất nhiều người đổ xô đến xin chữ ông đồ, để nhận được những câu đối hay ngày tết. Sự tài hoa của ông đồ được thể hiện qua sự tấm tắc ngợi khen của những người xem chữ, và hình ảnh những nét chữ đều đặn, uốn lượn đẹp say lòng người hiện lên trên giấy đỏ “như phượng múa rồng bay”. Tài năng ấy không phải ai cũng có, cho nên ông đồ mới được ngợi khen và cảm phục, những “hoa tay” thể hiện được tài năng trời phú của những ông đồ thời xưa.

(*) Hình ảnh ông đồ ở khổ thơ 3, 4:

– Thời thế thay đổi, chữ Nho không được trọng dụng, và hình ảnh ông đồ hiện lên với sự đối lập hoàn toàn với hình ảnh ông đồ xưa.

– Ngày tết đến, đã không còn mấy ai sắm câu đối hoặc chơi chữ, cho nên ông đồ cũng trở nên thất thế. Câu hỏi tu từ “người thuê viết nay đâu?” càng khiến ta xót xa với hoàn cảnh mà ông đồ đang trải qua. Câu hỏi như một sự ngẩn ngơ, tiếc nuối cho một con người đã trở nên thất thế, một nét văn hóa bị xưa cũ, bị lãng quên.

– Hình ảnh “giấy đỏ buồn không thắm/mực đọng trong nghiên sầu” càng khiến ta xót xa hơn cho hoàn cảnh của ông đồ. Còn rất ít người hứng thú với thú chơi chữ Nho, nghiên mực đọng lại cô đặc, giấy đỏ chẳng còn màu thắm, màu thắm ấy đang phai nhạt dần theo thời gian.

– Hình ảnh ông đồ “vẫn ngồi đấy”, vẫn vẹn nguyên lưu giữ nền văn hóa chữ Nho, nhưng chẳng còn ai như xưa tấm tắc ngợi khen nữa, họ “qua đường” với một thái độ thờ ơ, chẳng mấy ai còn quan tâm đến ông đồ ngày nào.

=> Hai hình ảnh ông đồ được đặt trong hai hoàn cảnh khác nhau tạo nên sự đối lập. Hình ảnh ông đồ thời chữ Nho được trọng thì được mọi người tấp nập đến xem, đến khen; còn khi ông đồ thất thế, ta thấy được sự cô đơn, lẻ bóng, bơ vơ giữa cuộc đời qua hình ảnh ông đồ. Qua đó, người đọc càng thấm thía và dâng lên niềm thương cảm sâu sắc đối với một lớp người đang tàn tạ, với nền văn hóa chữ Nho bị mai một.

Câu 2:

Qua bài thơ, nhà thơ thể hiện tâm tư của mình một cách tinh tế:

  • Thể hiện được tình cảnh đáng thương của ông đồ-đại diện cho một lớp người có học vấn trong xã hội cũ.
  • Tác giả thể hiện niềm thương cảm sâu sắc, đồng cảm và tiếc nuối cho lớp người cũ.
  • Thể hiện niềm tiếc nuối đối với cảnh cũ người xưa.

Câu 3:

Bài thơ hay ở những điểm sau:

  • Cách xây dựng và lột tả được sự khác nhau với hình ảnh ông đồ nhưng trong hai hoàn cảnh khác nhau, qua đó thể hiện được nội dung sâu sắc.
  • Thể thơ năm chữ để diễn tả chân thực hiện thực xã hội, hiện thực cuộc sống của một lớp người sa cơ lỡ thời.
  • Ngôn ngữ cô đọng, giản dị, giàu giá trị biểu đạt.

Câu 4:

“Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu”

  • Hình ảnh “giấy đỏ”. “mực”, “nghiên” là đại diện cho văn hóa viết chữ Nho. Mà giấy “không thắm”, “mực đọng”, và những từ ngữ miêu tả tâm trạng “buồn”, “sầu” để thể hiện nội dung sâu sắc. Các hình ảnh, sự vật đã được nhân hóa, thể hiện tâm trạng sầu buồn như con người. Qua đó gợi nhắc đến tình ảnh của ông đồ, cũng như nền văn hóa Chữ Nho đang dần bị mai một, dần bị quên lãng. Qua đó, thể hiện được niềm nuối tiếc của tác giả.

“Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay”

  • Nói đến sự tàn lụi, thê lương, ý chỉ sự mai một dần đi vào dĩ vãng của văn hóa viết chữ Nho.

Những câu thơ tả cảnh mà thực ra lại là tả tình. Tác giả mượn những hình ảnh của sự vật để nói đến số phận con người, hiện thực xã hội.

Hướng Dẫn Soạn Bài Ông Đồ Lớp 8 Của Vũ Đình Liên | Văn Mẫu
5 (100%) 1 vote
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

Hướng Dẫn Soạn Bài Nước Đại Việt Ta Lớp 8 | Bình Ngô Đại Cáo

(Soạn văn lớp 8): em hãy soạn bài nước đại việt ta của nguyễn trãi …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *