Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Và Cả Bài Thơ Tràng Giang

Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Và Cả Bài Thơ Tràng Giang

Đề Bài: Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Và Phân Tích Cả Bài Thơ Tràng Giang Của Huy Cận

BÀI LÀM

Huy Cận là nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ mới và Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của ông. Bài thơ được sáng tác năm 1939, in trong tập thơ Lửa thiêng là một tuyệt tác của nhà thơ Huy Cận nói riêng và của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) nói chung. Đây là một bài thơ với xúc cảm vũ trụ không những chan chứa một nỗi buồn mênh mông xa vắng mà còn thấm đượm một tình yêu quê hương đất nước lắng sâu theo như lời nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu “Tràng giang là một bài thơ ca hát non sông đất nước do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc”.

Sự nghiệp văn học của Huy Cận được chia làm hai giai đoạn, trước và sau cách mạng tháng Tám.  Trước Cách mạng, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: Lửa thiêng, Vũ trụ ca, Kinh cầu tự. Trong đó, Tràng giang là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận ở giai đoạn này. Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Bài thơ được các nhà nghiên cứu đánh giá mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại và là nỗi sầu chết chứa của thi nhân.

Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ thơ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Và, nỗi buồn càng như thấm sâu vào cảnh vật.

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm

Loading...

Nỗi nhớ nhung không biết đã vơi chưa

Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa

Cùng đất nước nặng buồn sông núi”

<Xuân Diệu>

Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi bật trong phong trào thơ mới. Đúng như những nhận xét của Xuân Diệu, trước cách mạng thơ Huy Cận thường mang đậm nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn nhân thế. Huy Cận đã có rất nhiều sáng tác thể hiện nỗi buồn. Tràng Giang là một trong những tác phẩm hay điển hình cho hồn thơ Huy Cận một thời. Khổ thơ đầu bài thơ đã miêu tả xuất sắc cảnh sông nước mênh mang, heo hút của sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗi buồn của người thi sĩ trước không gian vô tận.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền suôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng"

phan tich bai tho trang giang

Bài thơ Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một chiều thu, ông đứng ở bến nhìn ra cảnh sông Hồng rộng lớn. Mở đầu đoạn thơ, nhà thơ đã mang hình ảnh sóng nước sông Hồng buồn man mác vào tác phẩm:

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

Đọc câu thơ người đọc hình dung ra một con sông mênh mang sóng nước. Cụm từ “tràng giang” cho thấy một dòng sông dài vô tận. Nhà thơ không dùng “trường giang” mà dùng từ “tràng giang” khiến cho dòng sông không chỉ có chiều dài mà còn có chiều sâu. Cụm từ “điệp điệp” cho thấy những đợt sóng cứ dập dồn, liên tiếp xô nhau vào bờ. Qua cái nhìn đa sầu đa cảm của thi nhân, từng đợt sóng được nhân hóa lên như con người, cũng biết “buồn điệp điệp”. Từng đợt sóng gợn trên sông của hình ảnh thật ấy cũng như những nỗi buồn đang trải dài vô tận. Từ láy “điệp điệp” càng nhấn mạnh nỗi buồn hết lớp này đến lớp khác, nỗi niềm mang nhiều tâm sự của nhà thơ.

Trên con sông dài, không gian rộng lớn ấy, xuất hiện một con thuyền nhỏ bé:

“Con thuyền xuôi mái nước song song”

Hình ảnh đối lập giữa cái bao la, mênh mông của sông nước với con thuyền nhỏ lênh đênh giữa dòng càng gợi lên sự nhỏ bé của con thuyền. “Con thuyền” là hình ảnh tả thực nhưng dưới cái nhìn của cái tôi lãng mạn thì con thuyền cũng chỉ những thân phận nhỏ bé, nổi trôi của kiếp người.  Hình ảnh con thuyền và dòng sông vốn đã xuất hiện nhiều trong thơ ca từ cổ chí kim. Cách sử dụng hình ảnh cổ điển trong thơ cùng điệp từ “song song” càng gợi lên nỗi buồn xa vắng. Sử dụng nghệ thuật tiểu đối trong ngôn từ “buồn điệp điệp” đối với cụm từ “nước song song” tạo cho hai câu thơ nhịp thơ nhịp nhàng, chậm rãi như những tiếng thở dài não nuột đang trào dâng trong lòng nhà thơ.

Đoạn thơ không chỉ gợi lên nỗi buồn mà còn gợi lên sự chia lìa vô định:

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước thường đi liền với nhau, nhưng ý thơ ở đây lại mang đến một sự xa cách giữa thuyền và nước. Hình ảnh nước trong câu thơ được nhạn hóa như con người, cũng có cảm xúc, cùng biết “sầu” buồn. Cụm từ “sầu trăm ngả” gợi cho ta cảm giác một nỗi buồn vô tận, trải dài khắp không gian trăm ngả. Đọc câu thơ, người đọc hình dung được một con thuyền lênh đênh cứ trôi nổi xa tít, để mặc dòng nước mênh mang lặng lẽ và heo hút.

Bên cạnh những hình ảnh thân thuộc trong thơ xưa như sóng nước, con sông, con thuyền thì cuối đoạn thơ, nhà thơ lại mang đến một hình ảnh và ý thơ độc đáo đặc sắc:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

“Củi khô” là môt hình ảnh hiện đại trong thơ Huy Cận, hiếm khi ta bắt gặp một hình ảnh như thế trong thơ ca. Câu thơ giàu giá trị gợi hình, mang đến một hình ảnh chiếc củi khô nhỏ nhoi đang lạc lõng. Cành củi vốn đã tạo một cảm giác bé nhỏ, tầm thường lại còn “khô” càng mang đến một ý nghĩa thiếu sức sống. Cụm từ “lạc mấy dòng” mang ý nghĩa có chiều sâu, một cành củi khô đã vốn quá bé nhỏ lại bị quăng quật khắp mấy dòng sông nước. Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ, ông không viết “ một cành củi khô” mà lại viết “củi một cành khô” cùng nhịp thơ 1/3/3 khác hẳn với ba câu thơ trên như muốn nhấn mạnh cái hình ảnh của củi cũng như thân phận nhỏ nhoi bị vùi dập lênh đênh trên dòng đời vô định.

Xuyên suốt cả đoạn thơ là nỗi buồn sâu thẳm. Tất cả hình ảnh thơ “sóng”, “thuyền”, “nước”, “củi” hiện lên trong thơ Huy Cận đều buồn sầu không một sức sống. Bởi chính tâm hồn buồn man mác của nhà thơ đã dàn trải lên cảnh vật nên nhìn đâu cũng là nỗi sầu nhân thế. Như thi nhân xưa có viết “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

Bằng việc sử dụng những hình ảnh thơ chuẩn mĩ trong thơ xưa cùng hình ảnh thơ hiên đại qua cái nhìn của nhà thơ, kết hợp với các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, nghệ thuật đảo ngữ, ngôn từ giàu hình ảnh…Nhà thơ Huy Cận đã vẽ nên một bức tranh mênh mang, rộng lớn nhưng buồn man mác trên sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗi buồn về sự nhỏ nhoi, vô định của kiếp người. Đoạn thơ nói riêng cùng bài thơ nói chung là những vần thơ tiêu biểu cho hồn thơ sầu nhân thế của Huy Cận một thời.

 

Đến khổ 2 bài thơ Tràng Giang trước hết, có thể thấy cảnh tràng giang mênh mông, vắng vẻ ở hai câu thơ:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai câu thơ là một nét vẽ mền mại, uốn lượn, nhịp nhàng bởi các vần lưng liên tiếp “ lơ thơ” , “ nhỏ”, “đìu hiu”. Vẫn tiếp tục khung cảnh rộng lớn còn sự vật nhỏ bé, đơn cô, cồn nhỏ thấp thoáng lơ thơ ấy, Huy Cận càng ngày càng dẫn dắt ta vào hoài niệm nỗi buồn khi ấy của nhà thơ. Trước thiên nhiên rộng lớn, nhà thơ mong tìm những nơi chốn tụ họp của con người. Đó là một cái cồn nhỏ, là chợ nhưng càng thấy hoang mang, trơ trọi hơn. Bởi vì đây là một cái cồn nhỏ vắng lặng, cảnh vật nhuốm vẻ đìu hìu tàn tạ. Nhà thơ đã sử dụng thành công hai từ láy: lơ thơ và đìu hiu khi miêu tả quang cảnh của cái cồn nhỏ gần sông. Cảnh vật qua miêu tả thật hoang sơ, thê lương. Huy Cận đã học từ câu thơ dịch Chinh phụ ngâm:

“Non kì quạnh quẽ trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”

Nhưng thành công của Huy Cận là việc kết hợp cả với từ láy lơ thơ lại khiến cảnh vật càng quạnh quẻ. Câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” nói đến âm thanh nhưng với âm thanh của một buổi chợ tàn càng làm nổi bật cái vắng lặng, buồn bã. Người đọc như hình dung ra trước mặt một khung cảnh ảm đạm, thê lương, tàn tạ của buổi chợ chiều. Và qua câu thơ này, chúng ta không thể không liên tưởng tới cái phiên chợ ngày tàn trong Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam: “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía. […] Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi”. Nếu như Thạch Lam tập trung vào việc miêu tả hình ảnh những gì còn sót lại của buổi chợ chiều để làm nổi bật cái thê lương, tàn tạ của phố huyện nghèo thì Huy Cận lại tập trung nhiều hơn ở việc miêu tả âm thanh vọng lại từ xa của một buổi chợ chiều đã vãn. Không phải là âm thanh đông vui, náo nhiệt của một buổi chợ phiên mà là âm thanh vãn chợ chiều được vọng lại từ một làng xa. Có thể nói, để nghe được âm thanh đó, khung cảnh của ngôi làng đã rất vắng lặng, tĩnh mịch. Từ “ đâu “ trong câu thơ “ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều “ có hai nét nghĩa hiểu. Có thể hiểu theo nét nghĩa thứ nhất là ở đâu, đâu đó quanh đây vùng sông nước rộng lớn này vọng đến tai nhà thơ tiếng người buôn bán, cười đùa khi vãn chợ. Hay nét nghĩa thứ hai là từ “đâu” mang hàm ý phủ định sự tồn tại của con người nơi đây hoang mắng đìu hiu gió thổi như thế này. Nhưng dù hiểu theo nét nghĩa nào thì cảnh vật cùng chỉ tang thêm sự vắng lặng , tĩnh mịch. Bởi nếu có tiếng người thật thì nó lại là “làng xa” vọng tới, cách xa nơi chỉ có sông nước mênh mông bát ngát- nơi tác giả đang đứng ngắm nhìn dòng sông Hồng. Còn không có con người sinh sống tức càng làm tăng thêm sự thiếu thốn sự sống nơi đây. Tóm lại tồn tại trong mắt nhà thơ lúc này chỉ có cảnh và cảnh vật.  Đồng thời câu thơ còn ngầm biểu thị ý mong mỏi của nhà thơ đang kiếm tìm dấu hiệu sự sống, hơi ấm tình người. Thế nhưng càng tìm, tìm mãi nhà thơ chỉ càng thấy cô đơn, buồn sầu.

Nếu ở trong khổ thơ thứ nhất triển khai chiều rộng và chiều dài thì khổ 2 mở thêm vào chiều cao:

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

Trong cái không gian trời-mây- nước bao la, Huy Cận đưa mắt nhìn lên bầu trời kia, tâm trạng buồn của Huy Cận cũng phổ vào bầu trời bao la ấy một nỗi buồn sâu thẳm. Bởi vậy khi nắng xuống, trong con mắt Huy Cận, trời không cao mà lại “sâu chót vót”, cũng như không gian sâu thẳm của nỗi buồn. Bằng cấu trúc đăng đối nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng tác giả đã nhấn mạnh được ấn tượng không gian được mở ra ở cả ba chiều. Kết hợp độc đáo với sâu chót vót gợi cái thăm thẳm của vũ trụ. Lời đề từ được nhắc lại ở đây, tô đậm nỗi cô liêu của nhân vật trữ tình. Bằng việc việc vẽ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu ba, tác giả đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập : sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân li của cuộc đời được tô đậm thêm.

Đặc biệt, cách kết hợp từ trong câu ba cũng thật độc đáo. Khi viết “sâu chót vót”, tác giả không chỉ muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chới với, rợn ngợp của con người khi đối diện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ.

Tóm lại, không âm thanh của cuộc sống, không sự vật của con người, không biểu tượng của gia đình, quê hương… không có gì cả ! Một thi nhân mất nước chưa tìm được hướng đi cho mình, lại mẫn cảm trước thiên nhiên và cuộc đời, làm sao không có nỗi buồn như thế được ?

Sự suy tư của Huy Cận như đi vào bầu trời ấy, khoét sâu đến tận vũ trụ xa thẳm ngoài kia, buồn đến lạ lùng. Nhìn lại khung cảnh thiên nhiên bao la ấy, vẫn trời rộng, sông dài, vẫn bến cô liêu và trong lòng tác giả vẫn ồn ào của một nỗi sầu, một nỗi bâng khuâng cô đơn và vắng vẻ.

Cảnh quan, không gian bao la của thiên nhiên mở rộng ra trước mắt Huy Cận nhưng mọi thứ đều mờ ảo, mang một cái nét rất trơ trọi, bâng khuâng. Tuy mờ ảo nhưng lại mang một triết lý sâu xa. Mọi vật hữu hình hiện ra trong mắt Huy Cận đều buồn, đều cô đơn, cũng như thời thế đất nước bấy giờ, cũng băn khoăn và lạc lõng, trôi nổi vô đình như con thuyền, nguy hiểm và nhỏ bé như cây củi khô lạc giữa dòng sông.

Khổ thơ thứ ba thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình với những hình ảnh vừa gần gũi, thân quen vừa giàu sức gợi:

Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Những cánh bèo phiêu dạt giữa Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng phải chăng cũng là hình ảnh những kiếp người lênh đênh vô định giữa dòng đời ngược xuôi? Đọc đến đây, chúng ta biết bài thơ không chỉ đơn thuần là cái buồn tẻ của cảnh vật bao trùm nữa mà sâu sắc hơn ả chính là buồn về kiếp người được bộc lộ rõ nét và phát hiện ra hình ảnh bèo thân thuộc ta gợi nhớ đến câu hát quan họ cổ truyền cứ ngân vang trong lòng “ Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi…”. Ở đây nhà thơ trong thơ không chỉ miêu tả một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết. Và, đến một chuyến đò ngang trên sông nước cũng không có. Chuyến đò là biểu tượng cho sự sống, cho sinh hoạt của con người. Thế nhưng, ở đây, tuyệt nhiên không có một chuyến đò nào qua sông. Cái không ở đây được đẩy lên đến tột cùng để khẳng định sự vắng vẻ, cô quạnh của thiên nhiên và sự cô đơn, trống trải của lòng người. Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định: "…không…không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông

Nhà thơ mong tìm một sự giao cảm, gắn bó nhưng trước mắt chỉ là một không gian mênh mông, không một bóng ngời, không một chuyến đò, kông một cây cầu kết nói. Trong không gian này con người càng cảm thấy bơ vơ, cô độc giữa một cõi đời không chút niềm thân mật.

Tóm lại, cả bốn câu thơ đều buồn, mỗi câu mang một nỗi buồn riêng. Cảnh vật có đổi thay (so với những khổ thơ trên) nhưng cùng một dáng vẻ, tất cả đều trôi nổi, mông lung, vô định. Không có những dấu vết của con người. Vì vậy, thi nhân vẫn buồn !

Tràng Giang  là một bài thơ tuyệt bút của Huy Cận có nhận xét rằng mỗi khổ thơ đều có thể tách riêng thành một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Đúng như vậy bởi bao trùm bài thơ là nỗi sầu cô đơn trước vũ trụ rộng lớn bao la và niềm khao khát kiếm tìm yêu thương, tình người cùng với những hình ảnh thơ giản dị quen thuộc mang nét truyền thống nhân dân người Việt. Và khổ thơ bốn – tức khổ cuối, chính là phần đặc sắc nhất của cả bài thơ:

                              “ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

                                 Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

                                Lòng quê dờn dợn vời con nước,

                                Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Khổ thơ tuy chỉ có bốn dòng nhưng đã khái quát tấm lòng, tình cảm, tư tưởng của nhà thơ cũng như bút pháp nghệ thuật của ông.

Hai câu thơ đầu trong khổ thơ cuối khắc hoạ lại cảnh tượng rực rỡ, kì vĩ khi mặt trời xuống thấp, hắt ánh sáng lên các lớp mây cao cuồn cuộn đùn ra như những núi bạc. Tác giả rất thích chữ “đùn”, tả mây như có sức đẩy ở bên trong, cứ trồi ra hết lớp này đến lớp khác. Theo tác giả, câu thơ đầu ông học được chữ “đùn” trong bài dịch thơ Đỗ Phủ :

Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

(Thu hứng)

Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị.

Ở đây người đọc có thể dễ dàng nhận thấy, thơ của Huy Cận cũng có cánh chim và đám mây như trong một số bài thơ cổ nói về buổi chiều, tuy nhiên, hai hình ảnh này không có tác dụng hô ứng cho nhau như trong thơ cổ, mà chúng còn có ý nghĩa trái ngược nhau. Trong buổi chiều muộn, nhưng từng lớp, từng lớp mây trên cao kia vẫn chất chồng nên nhau, tạo thành những núi bạc, nổi bật trên nền trời xanh trong. Đây là một cảnh vật hùng vĩ biết bao! Đó không phải đám mây cô đơn lững lờ trơi giữa tầng không khi chiều về như trong thơ của Hồ Chí Minh. Mây ở đây chất chồng, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa trời đất bao la, tựa như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa đất trời này.
Đặt cánh chim và những núi mây bạc ở thế đối lập, đã tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng nhà thơ. Nỗi buồn như thấm đượm, lan tỏa trong khắp cả không gian:

“Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Tầm mắt trở lại trên dòng nước. Từng đợt sóng nước dập dềnh, nhẹ nhàng uốn lượn nhưng cũng tồn tại rất lâu, lan tỏa rất xa. Đó là hình ảnh miêu tả, nhưng cũng chính là tâm trạng của tác giả – một cảm giác cô đơn, buồn bã trải dài vô tận. Cả một không gian mênh mông vắng lặng, khiến cho nỗi buồn nhớ quê hương của nhà thơ càng trở nên rõ ràng. Buổi chiều là thời gian con người đoàn tụ với quê hương, cũng là khoảng thời gian buồn nhất  trong ngày của những người con phải xa người thân, xa gia đình. Và quả thật, nỗi buồn ấy được nhà thơ khẳng định ở câu cuối:
“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Người xưa nhìn khói sóng trên dòng sông khi chiều tà mà cảm thấy nhớ nhà như trong thơ của Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Tản Đà dịch).

 Nhà thơ đời Đường có “khói sóng” trên sông mới gợi niềm thương nhớ quê nhà, còn Huy Cận thì chẳng cần ngoại cảnh mà vẫn đủ khơi dòng nhớ mong, lòng vẫn dâng lên một nỗi nhớ quê hương da diết. Lúc này, cái buồn đã tương đối thành hình, không chỉ còn là cảm giác sầu mênh mông vời vợi do xúc cảnh sinh tình khi ngắm nước trường giang. Vì lúc bấy giờ, nhà thơ buồn hơn Thôi Hiệu.

Tóm lại, khổ thơ cuối đã mở ra những tình cảm đẹp của nhà thơ và gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Lời thơ mãi mãi thức tỉnh lòng hướng về quê hương và tình người ấm áp của mỗi chúng ta. Đó như một thứ tình cảm thường trực vẫn luôn chất chứa trong lòng người con xa quê, mà không cần một tác động nào từ bên ngoài, vẫn thấy nhớ quê, thương quê.

Tràng giang là bức tranh quê hương đẹp đẽ, nên thơ với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như bờ sông, cánh bèo, củi khô, áng mây. Đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, đã thấm vào từng con chữ. Đồng thời trong đó cũng thể hiện khát khao tìm được sự đồng điệu trong thế giới bao la của một tâm hồn thi sĩ luôn băn khoăn một “nỗi sầu nhân thế”.

Phân Tích Khổ Đầu Bài Thơ Tràng Giang Và Cả Bài Thơ Tràng Giang
4.3 (86.67%) 9 votes
Please follow and like us:
Loading...

Check Also

Vẻ Đẹp Cổ Điển Của Bài Chiều Tối Của Hồ Chí Minh | Văn Mẫu

(Soạn văn lớp 11): Em hãy cảm nhân vẻ đẹp cổ điển trong bài thơ …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *